Site icon Tin360

Hàng giả len vào thị trường bằng “vỏ bọc” niềm tin

Hàng giả và cái giá của niềm tin

Nguyễn Thị Hương, người được biết đến với tên “cô giáo Hương”, bị khởi tố để điều tra.. (Ảnh minh họa: Tin 360)

Từ danh tiếng của người có ảnh hưởng đến lượt thích, bình luận và hình ảnh chỉn chu trên mạng xã hội, hàng hóa vi phạm đang tìm cách tạo dựng niềm tin trước khi đến tay người tiêu dùng.

Ngày 22/8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố Nguyễn Thị Hương, được biết đến trên mạng xã hội với tên gọi “cô giáo Hương”, cùng chồng là Vũ Hải Long để điều tra về tội Lừa dối khách hàng.

Theo thông tin điều tra ban đầu, sản phẩm Loramen chỉ hỗ trợ khử mùi, ngăn ngừa nấm ngứa và vi khuẩn, không có tác dụng cải thiện sinh lý như nội dung quảng bá. Doanh thu bán lẻ bước đầu được xác định hơn 11,6 tỷ đồng.

Vụ việc cho thấy một sản phẩm ít được biết đến có thể tiếp cận khách hàng thông qua hình ảnh và danh tiếng của người bán. Khi nhân dạng gần gũi được lặp lại qua nhiều video, cảm giác quen thuộc dễ được chuyển thành niềm tin và quyết định mua hàng.

Loramen không phải trường hợp duy nhất. Trước đó, cơ quan chức năng đã xử lý nhiều vụ sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc quảng bá sản phẩm sai lệch trên mạng xã hội. Trong những vụ việc này, hàng hóa thường được giới thiệu bằng hình ảnh bắt mắt, lời quảng cáo hấp dẫn và sự xuất hiện của những người có lượng người theo dõi lớn.

Vụ kẹo rau củ Kera là một ví dụ. Tháng 11/2025, Tòa án tuyên Thùy Tiên, Quang Linh và Hằng Du Mục mỗi người 2 năm tù về tội Lừa dối khách hàng. Theo cáo trạng, gần 130.000 hộp sản phẩm được bán cho hơn 56.000 khách hàng, thu hơn 17,5 tỷ đồng.

Điểm đáng chú ý là uy tín được tích lũy từ một lĩnh vực khác có thể được chuyển sang sản phẩm như một dạng bảo chứng. Người mua không trực tiếp nhìn thấy quy trình sản xuất hay kiểm nghiệm, nhưng lại dễ tin vào hình ảnh, danh tiếng và những lời giới thiệu quen thuộc trên mạng.

Một “dây chuyền” tạo niềm tin vì thế hình thành từ nhiều mắt xích: hàng hóa được gia công, bao bì được thiết kế bắt mắt, người có ảnh hưởng xuất hiện trước camera, nền tảng phân phối nội dung và người dùng tạo thêm hiệu ứng bằng lượt thích, bình luận.

Khi sản phẩm có vấn đề, trách nhiệm có thể bị đẩy qua lại giữa người bán, đơn vị gia công, người quảng cáo và nền tảng. Trong khi đó, người tiêu dùng thường là bên khó có khả năng tự kiểm chứng chất lượng hàng hóa.

Không nên chỉ quy trách nhiệm cho người mua vì đã tin. Người tiêu dùng không thể tự kiểm nghiệm từng loại thực phẩm, mỹ phẩm hay sản phẩm liên quan sức khỏe trước khi mua. Việc bảo vệ họ đòi hỏi trách nhiệm rõ ràng hơn từ những bên tham gia đưa sản phẩm ra thị trường.

Với người có ảnh hưởng, lượng người theo dõi không phải là cơ sở để biến trải nghiệm cá nhân thành khẳng định về công dụng sản phẩm. Trách nhiệm cần được xem xét dựa trên mức độ tham gia, nội dung quảng bá, lợi ích nhận được và việc người đó có biết thông tin đưa ra là sai lệch hay không.

Tương tự, nền tảng thương mại điện tử không phải nhà sản xuất và không thể kiểm nghiệm mọi sản phẩm. Tuy nhiên, nền tảng nắm dữ liệu về giao dịch, quảng cáo, phản ánh của khách hàng và khả năng tiếp cận người mua nên cần có cơ chế phát hiện, ngăn chặn những dấu hiệu bất thường.

Muốn chống hàng giả trên môi trường mạng, việc kiểm tra không thể chỉ bắt đầu sau khi hàng nghìn sản phẩm đã được bán. Nguồn hàng, hồ sơ công bố, chứng từ, nội dung quảng cáo và dòng tiền cần được lưu giữ để có thể xác định trách nhiệm của từng bên khi phát sinh dấu hiệu vi phạm.

Hàng giả có thể được sản xuất từ nguyên liệu rẻ, nhưng thứ giúp nó bán được lại là niềm tin. Vì vậy, ngăn hàng giả hiệu quả không chỉ là truy tìm sản phẩm sau khi đã đến tay người mua, mà còn phải ngăn việc hàng hóa chưa được kiểm chứng mượn danh tiếng thật để tiếp cận người tiêu dùng.

Tâm Thanh (tổng hợp)